Chúng
ta cần phải phân biệt hai cơ quan:
1/
Sở An Sinh Xã Hội (Social Security Administration)
viết tắt là SSA, là cơ quan cấp ra thẻ an
sinh xã hội, cấp ra tiền trợ cấp SSI,
tiền hưu trí, tiền hưu bệnh, tiền
cấp dưỡng cô nhi quả phụ, tổ phụ.
Sở SSA cũng
là cơ quan có thẩm quyền quyết định
một người nào đó có đủ điều
kiện để hưởng Medicare hay không, nhưng
không điều hành chương trình Medicare.
2/
Bộ Y Tế và Xã Hội Liên Bang (US Department of Health
and Human Services)
là cơ quan có thểm quyền quyết định
mức giới hạn lợi tức của các chương
trình, điều hành các chương trình Medicaid -
Medicare - Medicare Savings Programs thông qua cơ quan Centers for
Medicare and Medicaid Services viết tắt là CMS, và các cơ
quan Health and Human Services Commission là các cơ quan Tiều
bang được giao trách nhiệm trực tiếp
điều hành.
Mỗi năm,
Bộ Lao động Liên bang Hoa kỳ công bố
mức vật giá gia tăng có ảnh hưởng
trực tiếp đến đời sống của
người dân có lợi tức thấp, gọi là
Cost of Living Adjustment, viết tắt là COLA, được
áp dụng từ năm 1975 và mỗi năm, các
khoản tiền trợ cấp xã hội đều
được gia tăng theo tỷ lệ vật giá
gia tăng.
Theo thống kê
của Bộ Lao động Hoa Kỳ về "Comsumer
Price Index for Urban Wage Earners and Clerical Workers (CPI-W) thì
bắt từ tam cá nguyệt thứ 3 của năm ngoái
(ngày 01/07/2008), cho đến cuối tam cá nguyệt
thứ 3 của năm nay (ngày 30/09/2009), vật giá
đã không gia tăng, nên không làm thay đổi tình
trạng sinh sống của người dân Mỹ, vì
vậy, những quyền lợi an sinh xã hội như
tiền hưu trí, tiền cấp dưỡng cô nhi,
quả phụ, tổ phụ, tiền trợ cấp
SSI, cũng không gia tăng cho năm 2010.
Thông
cáo từ Tòa Bạch Ốc ngày 15/10/09 công bố 02
vấn đề:
1/ Sẽ không có
sự thay đổi gia tăng cho năm 2010 đối
với tiền già SSI, tiền an sinh xã hội đã
được quốc hội thông qua ngày 24/09/2009
với tỷ lệ 406 phiếu thuận và 18 phiếu
chống.
Thông cáo này cũng
cho biết Bộ Y tế và Xã hội liên bang chưa
ban hành mức gia tăng lệ phí hàng tháng của
Medicare Part B, và nếu lệ phí có gia tăng cho năm
2010, luật cũng đã dự liệu phần
bảo vệ 93% số người đang hưởng
tiền an sinh xã hội sẽ không bị thiệt thòi,
nếu họ phải trích tiền an sinh xã hội hàng
tháng để trả lệ phí Medicare Part B cao hơn
năm ngoái.
Nếu quí
vị "down load" phần "fact sheet" thì
sẽ thấy các lệ phí deductible và premium của
Medicare Part A và Part B đã được gia tăng, ví
dụ lệ phí của Medicare Part B là 96.40 Mỹ kim/tháng
cho năm 2009 của những người có lợi
tức dưới 85000 Mỹ kim/năm đã
được tăng lên là 110.50 Mỹ kim/tháng cho năm
2010 tức là tăng 14.10 Mỹ kim/tháng
2/ Thông cáo báo chí
cũng nêu vấn đề chúng ta phải ủng
hộ lời kêu gọi của TT Obama xin quốc
hội chấp thuận cho 57 triệu người
Mỹ được hưởng thêm 250 Mỹ kim
nữa trong năm tới.
Ðó chỉ là
dự thảo luật kích thích kinh tế cho năm
2010 của TT. Obama (Obama's proposal Economic Recovery Act payment
for 2010) yêu cầu quốc hội chấp thuận ngân
khoản 13 tỷ Mỹ kim để trả 250 Mỹ
kim/người, nghĩa là tăng khoảng 2%/tháng -
cho tổng số 57 triệu người Hoa kỳ,
gồm 49 triệu người đang hưởng các
loại tiền an sinh xã hội, 5 triệu người
đang hưởng tiền SSI, 2 trịệu người
đang hưởng tiền cựu chiến binh, Ệ
triệu người đang hưởng tiển
bệnh và hưu trí của Sở Hỏa xa.
Số tiền
250 Mỹ kim/người, nghĩa là tăng khoảng
2%/tháng, nhằm mục đích đền bù cho sự
thiệt thòi phải trả lệ phí Medicare Part B gia tăng
14.10 Mỹ kim/tháng. Số tiền này khác với
số tiền 250 Mỹ kim đã được
trả từ tháng 05/2009 cho đến ngày 04/06/2009
chỉ dành cho những người hưởng
tiền SSI.
I/ Tiền trợ
cấp SSI (Supplemental Security Income)
Tiền SSI được cấp trên căn
bản nhu cầu của cuộc sống (Based on needs),
được hưởng nhiều hay ít đều
phụ thuộc vào thu nhập của gia đình
đương đơn, gồm có 02 loại :
1/ Tiền SSI dành
cho những người dưới 65 tuổi, gọi
là tiền bệnh
2/ Tiền SSI dành
cho những người từ 65 tuổi trở lên
được gọi là tiền già
A/ Tiền bệnh SSI
Những người dưới 65 tuổi
bị bệnh khuyết tật sẽ được hưởng
trợ cấp tiền bệnh nếu hội đủ
điều kiện về di trú, tài sản và lợi
tức, chẳng hạn bị bệnh teo não (Lou
Gehrig's desease) hoặc ghép thận (Kidney transplant) & Riêng
những trẻ em bị những bệnh như bị
mù, bị điếc, bị nhiễm HIV, bệnh
bệnh Down syndrome tức là bệnh "Khờ",
hoặc chỉ cân nặng dưới 2 pounds 10 Ounces,
hoặc bị chậm trí & đang chung sống
với cha mẹ, lợi tức của cha mẹ
sẽ được khấu trừ một phần,
phần còn lại mới được tính là
lợi tức, gọi là "Deeming Parental Income and
Resources"
B/ Tiền già SSI
Ðối với những người muốn
xin hưởng tiền già, nếu chưa có quốc
tịch Hoa Kỳ, chỉ có thẻ xanh 10 năm, qua
Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình, người
cao nên phải đợi sau 05 năm, kể từ ngày
được chấp nhận là thường trú nhân,
mới có thể nộp đơn xin hưởng
tiền già.
Thời gian 05 năm
chỉ là thời hạn tối thiểu để
được nộp đơn xin hưởng
tiền già, không có nghĩa là sau khi nộp đơn
thì sẽ đương nhiên được chấp
thuận, vì nếu đương đơn là thường
trú nhân, sở An sinh xã hội sẽ cứu xét
hồ sơ dựa trên 03 điều kiện căn
bản :
1/ Ðương
đơn có đủ số tín chỉ an sinh xã
hội (Social Security Credits) hay không ? Ðủ, có nghĩa
là phải có 40 tín chỉ, được tính
bằng thời gian làm việc 10 năm của chính mình,
hoặc thời gian làm việc của cả hai vợ
chồng, cộng lại, phải đủ ít nhất
là 40 tín chỉ an sinh xã hôi.
2/ Ðương
đơn có hội đủ điều kiện
về tài sản (Resources) không?.
3/ Ðương
đơn có hội đủ điều kiện
về lợi tức (Earned & Unearned Income ) không?.
Nếu đơn
xin tiền già SSI bị từ chối vì thời gian
sinh sống tại nước Mỹ chưa đủ
5 năm, thời gian quí vị rời khỏi nước
Mỹ vì lý do nào đó, sẽ bị khấu trừ
không tính vào thời gian 5 năm, quí vị sẽ
nhận được giấy báo từ chối
đơn xin hưởng trợ cấp " Notice of
Disapproved Claim " rằng :
1/- You cannot qualify
for medical insurance because you are neither a United States citizen nor
an alien lawfully admitted for permanent residence and residing in the
United States for at least five years in a row before filing for Medicare.
(Quí vị không hội đủ tiêu chuẩn để
được hưởng bảo hiểm sức
khỏe bởi vì quí vị không phải là một người
công dân Hoa Kỳ, và cũng không phải là một thường
trú nhân đã ở Hoa Kỳ liên tục 05 năm trước
khi nộp đơn xin bảo hiểm sức khỏe
Medicare)
2/- Hoặc
nếu đơn xin tiền già SSI bị từ
chối vì thời gian làm việc chưa đủ 40
tín chỉ an sinh xã hội, quí vị sẽ nhận
được giấy báo từ chối đơn xin
hưởng trợ cấp " Notice of Disapproved Claim
" rằng : You did not work long enough under Social Security to
qualify for Medicare. For you to qualify for Medicare, you need to have
earned 40 credits. (Quí vị đã không làm việc đủ
thời gian theo qui định của luật An sinh xã
hội để được hưởng bảo
hiểm sức khỏe Medicare. Ðể được hưởng
Medicare, quí vị phải làm việc đủ 40 tín
chỉ an sinh xã hội).
Khi không làm
việc đủ số lượng tín chỉ an sinh
xã hội, nhân viên sở an sinh xã hội sẽ thông
báo cho quí vị biết rằng quí vị có quyền
bỏ tiền túi để xin mua Medicare Part A và Part B,
nếu quí vị có nhu cầu.
Theo luật an
sinh xã hội, khi một người hưởng
tiền hưu trí thấp hơn tiền già, người
này có quyền nộp đơn với sở SSA để
xin hưởng thêm tiền già SSI. Nếu tiền hưu
trí của mình nhiều, thì dù chỉ được
$1.00 tiền già thì về phương diện SSI
Medicaid, người hưởng tiền già $674.00/tháng
hoặc $400.00/tháng hoặc $50.00/tháng hoặc chỉ
$1.00/tháng, họ cũng là những người
được hưởng tiền già, được
hưởng quyền lợi giống nhau là có Medicaid,
có Medicare Part A - Part B như nhau.
Khi một người
hưởng tiền hưu trí thấp hơn tiền
già, chỉ có thẻ xanh, mà muốn xin hưởng thêm
tiền già SSI, thì người này phải hội
đủ điều kiện để được
hưởng tiền già SSI, có nghĩa là nếu ở
tuổi 65 mà thời gian làm việc của riêng mình,
hoặc thời gian làm việc của mình cộng thêm
thời gian làm việc của người phối
ngẫu cũng không đủ 40 tín chỉ an sinh xã
hội, thì cũng không được hưởng
Medicare và mỗi tháng, cũng không được hưởng
thêm một khoản tiền già SSI cho ngang bằng
tiền già SSI bình thường cộng thêm 20 Mỹ
kim nữa.
Thí dụ:
Tiền già là
674 Mỹ kim / tháng cho năm 2009. Một người có
quốc tịch Mỹ hoặc thường trú nhân có
đủ 40 tín chỉ, có tiền hưu trí là 300
Mỹ kim/tháng, sẽ được hưởng thêm
394 Mỹ kim nữa (374 Mỹ kim SSI cho đủ 674
Mỹ kim, cộng thêm 20 Mỹ kim), tổng cộng
sẽ là 694 Mỹ kim/tháng. Nếu người này
chỉ có thẻ xanh và thời gian làm việc chưa
đủ 40 tín chỉ, thì chỉ được 300
Mỹ kim/tháng, mà không được hưởng thêm
phần chênh lệch 394 Mỹ kim/tháng.
Kể từ ngày
01/01/2009, tiền già là 674 Mỹ kim/tháng cho một cá
nhân và 1,011 Mỹ kim/tháng cho một cặp vợ
chồng. Một cá nhân đang nhận tiền già SSI
ở chung với thân nhân, bạn hữu, nhưng không
phải chia sẻ gánh nặng tiền nhà, tiền
bills, hoặc có đóng góp chi phí này, nhưng số
tiền lại quá ít, thấp dưới 1/3 tiền
già trọn vẹn, thì căn cứ vào luật chi phí
sinh hoạt (Living Arrangement) của trợ cấp SSI,
số tiền già SSI là 674 Mỹ kim/tháng, sẽ
bị mất 1/3 là 224.66 Mỹ kim/tháng, chỉ còn
được hưởng 2/3 là 449.34 Mỹ kim/tháng và
tiền già của một cặp vợ chồng là
1011 Mỹ kim/tháng sẽ bị mất 1/3 là 337 Mỹ
kim/tháng, chỉ còn được hưởng 2/3 là
674 Mỹ kim/tháng.
Nếu chi phí
trong đời sống hàng ngày quá đắt đỏ,
chủ nhà sẽ yêu cầu quí vị cao niên đóng
góp thêm chi phí sinh hoạt chia theo tỷ lệ số
người sinh sống trong gia đình đó, quí
vị cao niên sẽ yêu cầu chủ nhà (Landlord)
viết giấy xác nhận sự thay đổi này
(change) và báo cáo với nhân viên của sở SSA, xin
điều chỉnh lại trợ cấp tiền già
SSI cho đủ 674 Mỹ kim/tháng..
Khi một người
đang nhận tiền già SSI mà đi làm việc,
hoặc người hôn phối đi làm việc,
lợi tức mới này sẽ ảnh hưởng
đến số tiền trợ cấp SSI, vì loại
trợ cấp này được cấp trên căn
bản nhu cầu của cuộc sống (Based on needs).
Số tiền lương chưa trừ thuế (Gross
Earned Income) là 1,433 Mỹ kim/tháng cho năm 2009. Nếu
vượt quá mức giới hạn lợi tức này,
số tiền trợ cấp tiền già SSI sẽ
bị mất. Khi bị mất tiền già SSI, sẽ kéo
theo hậu quả là sẽ bị mất luôn cả
Medicaid....
Nếu số
tiền lương chưa trừ thuế ở dưới
mức giới hạn 1,433 Mỹ kim/tháng, có thể
mỗi tháng sẽ chỉ còn lại một khoản
tiền nhỏ, nhưng dù chỉ còn được
nhận 1.00 Mỹ kim/tháng tiền già SSI, quí vị
vẫn là người được hưởng
trợ cấp tiền già SSI (SSI recipient), khi có
tiền già SSI, đương nhiên có theo cả
Medicaid, và Medicare.
Theo thông cáo báo
chí từ Tòa Bạch Ốc công bố ngày 15/10/2009 thì
sẽ không có sự thay đổi nào cho năm 2010
đối với tiền già SSI, có nghĩa là kể
từ ngày 01/01/2010, tiền già vẫn là 674 Mỹ kim/tháng
cho một cá nhân và 1,011 Mỹ kim/tháng cho một
cặp vợ chồng.
II/ Tiền hưu
trí
Một tín chỉ an sinh xã hội, có người
gọi là Quarter là 1090 Mỹ kim cho năm 2009 sẽ tăng
lên là 1120 Mỹ kim kể từ ngày 01/01/2110.
Khi quí vị
ở tuổi 65 mà có ít nhất 40 tín chỉ, quí
vị sẽ đương nhiên có Medicare Part A và người
phối ngẫu, chỉ có thẻ xanh và đã ở
Mỹ trên 5 năm, khi đến 65 tuổi cũng có
Medicare Part A dù người này không đi làm việc,
vì được "ăn theo tín chỉ " thâm niên
lao động của người hôn phối.
Có 3 loại hưu
trí là: Hưu non (Early Retirement) - Hưu thực thụ
(Full Retirement) và Hưu muộn (Late Retirement)
Theo luật định,
tuổi sớm nhất để về hưu là 62
tuổi, gọi là hưu non. Người ta chỉ
được gọi là về hưu khi mình
được hưởng tiền hưu trí, dù là
tiền hưu non hay tiền hưu thực thụ.
Nếu quí vị không còn đi làm việc trước
năm 62 tuổi, thì không được gọi là
về hưu, mà là tự ý rời bỏ lực lượng
lao động để ở nhà vui thú điền viên..
Tuy nhiên, một
số cơ quan như Sở hỏa xa có chương
trình hưu trí riêng mà nhân viên có thể về hưu
ở tuổi 55, hoặc cơ quan chính phủ có qui
luật 80 điểm (tuổi + thâm niên công vụ =
80) thì sẽ được về hưu, và người
công chức hồi hưu này vẫn được hưởng
bảo hiểm sức khỏe của cơ quan cho
đến khi từ trần.
Khi quí vị
đang nhận tiền hưu non (Early Retirement benefit) mà
muốn đi làm việc, mức giới hạn
lợi tức là 14,160 Mỹ kim/năm hoặc 1,180
Mỹ kim/tháng cho năm 2009.
Nếu tiền lương
chưa trừ thuế ở dưới mức
giới hạn này, tiền hưu non đang nhận lãnh
sẽ không bị mất một đồng nào.
Nếu tiền lương chưa trừ thuế vượt
quá mức giới hạn, số tiền chênh lệch
giữa khoản tiền lương và mức giới
hạn lợi tức sẽ bị khấu trừ 1
Mỹ kim cho mỗi 2 Mỹ kim của tiền lương,
tức 1/2 tiền chênh lệch. Ví dụ một người
có tiền lương chưa trừ thuế là 21,560
Mỹ kim cho năm 2009, số tiền chênh lệch
sẽ là 21,560 14,160 = 7,400 Mỹ kim. Cứ mỗi 2
Mỹ kim của khoản tiền 7,400 Mỹ kim sẽ
bị khấu trừ 1 Mỹ kim, nghĩa là bị
khấu trừ 7,400 Mỹ kim/2 = 3,700 Mỹ kim một năm
hoặc 308.34/tháng.
Trong năm mà quí
vị sẽ đủ tuổi về hưu thực
thụ (The year an individual reaches full retirement age), khi quí
vị đang nhận tiền hưu non mà vẫn còn
đi làm việc, mức giới hạn lợi
tức là 37,680 Mỹ kim/năm hoặc 3,140 Mỹ kim/tháng
cho năm 2009. Trong suốt thời gian này, cứ
mỗi 3 Mỹ kim tiền lương vượt quá
mức giới hạn lợi tức sẽ bị
khấu trừ 1 Mỹ kim tức 1/3 tiền chênh
lệch.
Kể từ khi
quí vị đủ tuổi hưu thực thụ mà
vẫn đi làm, số tiền lương sẽ không
ảnh hưởng đến tiền hưu trí.
Cũng theo thông
cáo báo chí từ Tòa Bạch Ốc công bố ngày
15/10/2009, sẽ không có sự thay đổi nào cho năm
2010 đối với mức giới hạn về
tiền lương, có nghĩa là kể từ ngày
01/01/2010:
A/ Khi quí vị
đang nhận tiền hưu non (Early Retirement benefit) mà
muốn đi làm việc, mức giới hạn
lợi tức vẫn là 14,160 Mỹ kim/năm hoặc
1,180 Mỹ kim/tháng
B/ Trong năm mà
quí vị sẽ đủ tuổi về hưu
thực thụ, khi quí vị đang nhận tiền hưu
non mà vẫn còn đi làm việc, mức giới
hạn lợi tức vẫn là 37,680 Mỹ kim/năm
hoặc 3,140 Mỹ kim/tháng.
III/ Cuốn
cẩm nang Medicare & You 2010 và những thay đổi
1/
Medicare Part A:
Medicare Part A là loại bảo hiểm chi trả cho các
dịch vụ y tế khi quí vị được
điều trị trong các bệnh viện (Hospital
hoặc Clinic ) hoặc trung tâm chỉnh hình (Skill nursing
facility).
Nếu một người
ở tuổi 65, có đi làm việc, nhưng chỉ
trả thuế Medicare được 30 đến 39 tín
chỉ an sinh xã hội sẽ phải " mua"
Medicare Part A là 244 Mỹ kim/tháng, và nếu dưới
30 tín chỉ, sẽ phải trả khoản tiền là
443 Mỹ kim/tháng cho năm 2009 được tăng lên
là 254 Mỹ kim/tháng cho người có từ 30 đến
39 tín chỉ, và 461 Mỹ kim/tháng cho người có dưới
30 tín chỉ cho năm 2010
Thời gian nằm bệnh viện hoặc
trung tâm chỉnh hình được tính bằng
"Benefit Period " xin tạm dịch là "Chu
kỳ điều trị nội trú", được
định nghĩa như sau :
"Chu kỳ
điều trị nội trú được bắt
đầu tính kể từ ngày nhập viện
hoặc trung tâm chỉnh hình.
Mỗi chu kỳ điều trị nội trú
là 150 ngày, tuy nhiên, chu kỳ điều trị
nội trú sẽ bị chấm dứt nếu người
bệnh đã xuất viện và không nhập viện
trở lại trong vòng 60 ngày liên tục kế
tiếp.
Nếu bệnh
nhân nhập viện trở lại sau khi chu kỳ
điều trị nội trú trước đã
chấm dứt, thì phải bắt đầu lại
với chu kỳ điều trị nội trú mới.
Bệnh nhân phải
trả tiền Deductible cho mỗi chu kỳ điều
trị nội trú và không có giới hạn về số lương
chu kỳ điều trị nội trú trong cuộc
đời của họ"
Chu kỳ điều
trị nội trú không bị giới hạn trong
suốt cuộc đời của họ, hết chu
kỳ này lại sang chu kỳ mới, với điều
kiện bệnh nhân chưa sử dụng hết
thời gian 150 ngày trong mỗi chu kỳ điều
trị nội trú. Ví dụ nhập viện khoảng
10 ngày hoặc 20 ngày hoặc 40 ngày rồi xuất
viện.
Nếu vì lý do căn
bệnh hiểm nghèo, chẳng hạn bệnh nhân
bị hôn mê (Coma) lâu dài, phải nằm điều trị trong
bệnh viện 150 ngày liên tục, họ sẽ không
được hưởng thêm chu kỳ điều
trị nội trú khác nữa, mà bệnh nhân sẽ có
60 ngày dự trữ suốt đời người (Lifetime Reserve days is 60 days that Medicare will pay for.
These reserve days can be used only once during your lifetime. For each
lifetime reserve day, Medicare covers all covered costs except for a daily
coinsurance ), và sẽ phải sử dụng 60 ngày
dự trữ này, nhưng vẫn phải trả
phần tiền phụ chi bảo hiểm (Co-payment) là 550 Mỹ kim/ngày như được qui định
tại cuốn cẩm nang Medicare and You 2010, sau
đó, bệnh nhân phải tự thanh toán mọi chi
phí y tế tại nhà thương và trung tâm chỉnh
hình nếu vẫn cần phải tiếp tục điều
trị nội trú.
Theo qui định
ghi trong cuốn Medicare and You 2010, nếu một người
chỉ có Medicare mà
không có Medicaid,
hoặc không được hưởng trợ giúp
của chính phủ trong chương trình Qualified
Medicare Beneficiary viết tắt là QMB sẽ phải
trả những phí tổn như sau :
Sồ tiền
Deductible cho mỗi chu kỳ điều trị nội
trú là 1,068 Mỹ kim cho năm 2009 được tăng
lên là 1,100 Mỹ kim cho năm 2010 và bệnh nhân không
phải trả phần Co-payment từ ngày 1 đến
ngày thứ 60, nếu phải ở trong bệnh
viện 60 ngày liên tục.
Nếu bệnh
nhân vẫn phải tiếp tục nằm điều
trị trong bệnh viện, sẽ phải trả
phần Co-payment là 267 Mỹ kim/ngày kể từ ngày
thứ 61 đến ngày thứ 90
cho năm 2009 được tăng lên là 275 Mỹ kim/ngày
cho năm 2010.
Nếu sau ngày thứ 90 mà bệnh nhân vẫn
phải nằm điều trị trong bệnh viện,
sẽ phải trả phần Co-payment là 534 Mỹ kim/ngày
từ ngày thứ 91 đến ngày thứ 150 cho
năm 2009 được tăng lên là 550 Mỹ kim/ngày
cho năm 2010.
Sau ngày thứ 150 bệnh nhân phải
tự thanh toán mọi phí tổn điều trị
nội trú.
Nếu người
bệnh đã được điều trị
tại bệnh viện ít nhất 03 ngày, sau đó
được chuyển từ bệnh viện sang
trung tâm chỉnh hình, bệnh nhân sẽ không phải
trả phần Co-payment cho 20 ngày đầu tiên
Kể từ ngày
thứ 21 cho
đến ngày thứ 100, bệnh nhân sẽ phải
trả phần Co-payment là 133.50 Mỹ kim/ngày cho năm 2009 được tăng lên là
137.50 Mỹ kim/ngày cho năm 2010.
Kể từ ngày
thứ 101, nếu người bệnh vẫn ở
trong trung tâm chỉnh hình, sẽ phải tự thanh toán
mọi phí tổn.
2/
Medicare Part B: Khoản tiền Deductible của Medicare Part B là 135
Mỹ kim/năm cho năm 2009 được lên là 155
Mỹ kim cho năm 2010
Lệ phí
của Medicare Part B là 96.40 Mỹ kim/tháng cho năm 2009
cho những người có lợi tức dưới
85,000 Mỹ kim/năm được tăng lên là
110.50 Mỹ kim/tháng cho năm 2010.
IV/
Chương trình Low Income Subsidy
Chương trình trợ cấp cho gia đình
có lợi tức thấp về các dịch vụ y
tế Low Income Subsidy viết tắt là LIS gồm có 02
loại là chương trình Medicare tiết kiệm
tức Medicare Saving Programs dành cho Medicare Part A và B, Extra
Help thì dành cho Medicare Part D.
Những vị
cao niên nhận tiền già SSI, có Medicaid của chính
phủ Tiểu bang cấp, nhưng lại có cả
Medicare Part A và Part B mặc dù không đi làm việc
hoặc thời gian làm việc quá ít, bởi vì
họ được chính phủ Tiểu bang giúp mua
cho họ Medicare Part A và Part B trong chương trình
"Medicare Savings Programs " và chương trình
"Medicare Buy-In".
Trong năm 2009,
chính phủ Tiểu bang phải trả Medicare Part A là
443 Mỹ kim/tháng cho những người không có tín
chỉ an sinh xã hội hoặc làm việc dưới
30 tín chỉ an sinh xã hội, Part B Premium là 96.40 Mỹ
kim/tháng và 135 Mỹ kim/năm tiền Deductible cho
Medicare Part B được thay đổi kể từ
ngày 01/01/2010 cho Medicare Part A là 461 Mỹ kim/tháng, Medicare
Part B Premium là 110.50/tháng và 155 Mỹ kim/năm cho
Medicare Part B Deductible.
Như vậy,
một vị cao niên được hưởng
trợ cấp tiền già SSI 674.00 Mỹ kim/tháng + 461
Mỹ kim + 110.50 Mỹ kim = 1,245.50 Mỹ kim/tháng
hoặc 14946 Mỹ kim/năm + 155 Mỹ kim/năm = 15101
Mỹ kim/năm.
Vì được
Tiểu bang trích tiền qũy để mua Medicare Part
A và Medicare Part B, nên người hưởng tiền
già SSI vừa có Medicaid, lại vừa có Medicare Part A và
Medicare Part B, nên trong giấy Medicaid của người
cao niên hưởng tiền già SSI, có chữ MQMB
viết tắt của Medicaid Qualified Medicare Beneficiary.
Chương trình
Qualified Medicare Beneficiary (QMB) giúp trả các lệ phí hàng
tháng của Medicare A và B, các phần phụ chi bảo
hiểm của Medicare A và B, Deductible của mỗi
Benefit Period của Part A, Deductible hàng năm của
Medicare Part B, Specified Low-Income Beneficiary (SLMB) và Qualifiyng
Individual 1 (QI-1) chỉ giúp trả lệ phí hàng tháng
của Medicare Part B, Qualifified Disabled and Working Individual (QDWI)
giúp trả lệ phí hàng tháng của Medicare Part A.
Các chương
trình này không giúp trả lệ phí hàng tháng của
bảo hiểm phụ, gọi là Medigap.
Mức giới
hạn lợi tức từ ngày 01/03/2009 cho đến
nay như sau:
- QMB phải dưới
100% của mức nghèo liên bang (Federal Poverty Level
viết tắt là FPL ) là dưới 923 Mỹ kim/tháng
cho 1 cá nhân và cho một cặp vợ chồng là 1,235
Mỹ kim/tháng..
- SLMB phải
trong khoảng từ 100% - dưới 120% của
mức nghèo tức dưới 1,103 Mỹ kim/tháng cho 1
cá nhân và 1,477 Mỹ kim/tháng cho một cặp vợ
chồng.
- QI-1 phải
từ 120% - dưới 135% của mức nghèo là
từ 1,103 Mỹ kim/tháng cho đến dưới
1,239 Mỹ kim/tháng cho 1 cá nhân và từ 1,477 Mỹ kim/tháng
cho đến dưới 1,660 Mỹ kim/tháng cho một
cặp vợ chồng.
Mức giới
hạn này sẽ được thay đổi vào
khoảng cuối thàng 02/2010 hoặc tháng 03/2010 khi có
thông báo của Bộ Y tế và Xã hội liên bang
V/
Medicare Part D
Sau ngày được chấp thuận cho hưởng
Medicare Part A hoặc Part B lần đầu tiên,
những vị cao niên từ 65 tuổi trở lên có
thời hạn 90 ngày kế tiếp để ghi danh vào
một chương trình Medicare Rx, còn gọi là Medicare
Part D tức là Bảo hiểm mua thuốc theo toa bác
sỹ.
Kể từ ngày
01/01/2010, trong chương trình Medicare Part D, số
tiền Deductible $295.00 cho năm 2009 đã tăng lên
$310.00 cho năm 2010, kế tiếp chi phí thuốc
được cơ quan bảo hiểm và người
bệnh cùng trả cho tới mức 2700 Mỹ kim cho năm
2009 sẽ tăng lên $2,830.00 cho năm 2010, tới
giới hạn này, người bệnh bị rơi vào
Donut Hole và phải tự trả cho tới mức
$4,350.00 Mỹ kim cho măm 2009 sẽ tăng lên tới
mức $4,550.00 kể từ ngày 01/01/2010, sau đó, người
bệnh chỉ phải trả từ $2.40 - $6.00 cho năm
2009 được tăng lên $2.50 cho đến $6.30
cho mỗi toa thuốc cho năm 2010.
Khi đủ 65
tuổi, quí vị xin hưởng tiền già SSI
hoặc Medicare lần đầu tiên, nhân viên sở
SSA sẽ ghi danh quí vị vào Chương trình Extra
Help để được chính phủ liên bang
trợ giúp phần lệ phí mua thuốc hàng tháng
trả cho công ty bảo hiểm thuốc, chứ chưa
ghi danh quí vị vào một chương trình thuốc
(Plan) nào cả. Vì thế, quí vị phải tự
chọn cho mình một chương trình thuốc nào có
bán lọai thuốc qúi vị cần dùng hàng tháng
Lệ phí mua
thuốc hàng tháng (Extra Help) đã được thay
đổi và có hiệu lực kể từ ngày
01/01/2010, khác nhau tại mỗi tiểu bang, ví dụ
tại tiểu bang California từ $24.86 Mỹ kim/tháng
cho năm 2009 tăng lên 28.99 Mỹ kim/tháng cho năm
2010, tại Texas từ 25.36 Mỹ kim/tháng cho năm 2009
tăng lên 27.53 Mỹ kim/tháng cho năm 2010, tại
Florida từ 21.47 Mỹ kim/tháng cho năm 2009 tăng lên
27.45 Mỹ kim/tháng cho năm 2010, tại Virginia từ
31.72 Mỹ kim/tháng cho năm 2009 tăng lên 34.15 Mỹ
kim/tháng cho năm 2010, có nghĩa là những vị nào
đang ở trong các chương trình trợ giúp Extra
Help mà lệ phí hàng tháng của Medicare Part D vượt
quá mức giới hạn mới, phải chuyển
đổi sang một chương trình khác có mức
giới hạn nằm dưới mức giới
hạn để không phải trả tiền chênh
lệnh. Ví dụ tại California, mức giới
hạn mới là 28.99 Mỹ kim/tháng, lệ phí hàng tháng
của cơ quan bảo hiểm thuốc đã tăng
lên là $40..00 Mỹ kim/tháng kể từ ngày 01/01/2010,
nếu quí vị không chuyển đổi cơ quan
bảo hiểm thuốc, quí vị sẽ phải
trả phần tiền chênh lệch là $40.00 - $28.99 =
$11.01 Mỹ kim/tháng.
Kể từ ngày
01/01/2009, để được hưởng trợ
cấp của chính phủ qua chương trình Extra
Help, trả giúp phần Premium hàng tháng, Deductible và
Co-payment khi đi mua thuốc, mức giới hạn tài
sản là 12,510 Mỹ kim cho một cá nhân, 25,010 Mỹ
kim cho một cặp vợ chồng và mức giới
hạn lợi tức là 16,245 Mỹ kim/năm tức
1,354 Mỹ kim/tháng cho một cá nhân và 21,855 Mỹ kim/năm
tức 1,821 Mỹ kim/tháng cho một cặp vợ
chồng.
Mức giới
hạn mới sẽ được công bố vào
cuối tháng 2/2010. Khi có những thay đổi
mới, chúng tôi sẽ thông báo với quí vị.
Nguyễn Hải |