

Chân dung Cố Giám Mục PHAOLÔ LÊ ĐẮC TRỌNG (Trần Phong Vũ)
|
Sau
92 năm tại thế, ngày 07-9-2009 Đức Cha Phaolô
Lê Đắc Trọng, nguyên giám mục phụ tá
tổng giáo phận Hà Nội đă được
Thiên Chúa gọi về. Trong hơn 60 năm linh mục
và 15 năm giám mục, ít ai biết rơ về thân
thế, gia cảnh nhất là tác phong, nhân cách của
ngài. Cho đến những năm cuối đời
khi hai tập Hồi Kư 1 (2006) và 2 (2007) được
phổ biến giới hạn trong nước, một
số người mới bắt đầu lờ
mờ nhận ra nơi Đức Cha Phaolô một nhân
cách lớn. Nhưng
vẫn chưa đủ rơ nét. Phải
chờ tới sau Thánh Lễ an táng tại Nhà Thờ
Chính Ṭa Nam Định ngày 09-9-2009, khi Hồi Kư
tập 3 được công bố*, người ta
mới cảm nhận được trọn vẹn
chân dung của người môn đệ Chúa Kitô
đă âm thầm nhưng can đảm sống và
thể nghiệm niềm tin son sắt của ḿnh
giữa những tháng năm đầy biến động
trong ḷng Giáo hội và Quê hương. Đấy là h́nh
ảnh của đoá hoa sen tinh khiết lừng
lững vươn lên giữa bùn lầy nhơ
bẩn.
Một mẫu người
đơn sơ, khiêm tốn Qua
những chứng từ để lại trong ba
tập Hồi Kư, và qua những phát hiện sau này
của nhiều nhân chứng, cho thấy Đức Cha
Phaolô là một mẫu người đơn sơ,
khiêm tốn, cưu mang một tinh thần nghèo khó
bẩm sinh. Và khi tinh thần nghèo khó, đơn sơ,
khiêm tốn bẩm sinh ấy được tôi
luyện trong môi trường Kitô giáo th́ chỉ có tăng
thêm chứ không hề sút giảm. Trong
đoạn thuật lại thời thơ ấu và bước
đường Mục vụ ở phần 1 Hồi Kư
toàn tập, Đức
Cha đă giăi bày tâm trạng băn khoăn, bứt
rứt pha lẫn ưu tư của ḿnh khi chứng
kiến lối sống cách biệt mà ngài cho là
“dị thường” của giới giáo sĩ và
cung cách “khúm núm, lễ độ” quá lố
của giáo dân đối với những người
chăn giắt linh hồn trong những năm cuối
thế kỷ, ngay giữa ḷng một chế độ
gọi là ”xă hội chủ nghĩa”. Một điều
dị thường khác theo quan sát của đức
cha Phaolô ngay từ khi c̣n là một học sinh nhỏ
trong xứ đạo quê nhà th́ tuồng như người
giáo dân Việt Nam có vẻ ưa thích lối sống
quan liêu, hách dịch, xa cách của giáo sĩ hơn là
thái độ b́nh dân, thân cận của các ngài!
Đức cha viết: “Giáo
dân kính mến các cha là thế. Sự quí mến
đó có giúp ǵ cho các cha trong con đường nhân
đức thiêng liêng hay chỉ giúp làm nảy tính kiêu
kỳ, xa cách, ủy mị, biếng nhác việc
bổn phận, tạo nên một lớp người
lạ thường, kỳ dị?
Cách đối xử với các ngài cũng lạ thường.
Chào cha lại phải thêm những tiếng: ‘con xin
phép lạy cha’. Lúc ra về: ‘Con xin phép về,
để cha nghỉ’, dường như cha chỉ có
nghỉ ngơi, nằm vơng chẳng phải làm
việc ǵ. Một nếp
sống tồn tại qua nhiều thế hệ. Tưởng
rằng cuộc ‘tổng quét’ mà cộng sản
thực hiện ở mọi tầng lớp xă hội
có thể lật đổ được cách
sống đó. Xem ra trái lại!
Cũng như một số người hách dịch
quan liêu nơi các cán bộ xă hội - th́ các linh mục vào cuối thế kỷ ở
Việt Nam, vẫn thừa tự nếp sống quan liêu,
hách dịch chẳng kém xưa. …
cha nào hiền lành, b́nh dân, xem ra nhiều người
lại không thích. Thí dụ cha Hiếu, khi đến
chơi nhà ông trẻ tôi đang làm trùm, thấy người
ta giă gạo, người cũng đứng lên
cối giă, bà con coi là tầm thường….. Cử
chỉ b́nh dân đó ảnh hưởng lớn đối
với tôi” Ngài
tự hỏi: “ảnh
hưởng bao nhiêu?”
và tự trả lời: “Suốt đời”.
Hé
mở đôi chút về ḿnh, tác giả hồi kư cho
hay: “Tính tôi nhút nhát, không
thích ra mắt. Sợ gặp người giầu có
quyền sang, thích giao thiệp với những người
dân nghèo khó”. (HK toàn tập Phần Một – Thời
Thơ Ấu & Bước Đường Mục
Vụ, trang 25-26). Trong
bài giảng thuyết nhân Thánh Lễ an táng Đức
Cha Phaolô ở Nhà Thờ Nam Định hôm 09-9-2009,
Đức Cha Lôrenxô Chu Văn Minh, đương kim
giám mục phụ tá Hà Nội, làm chứng: “Trong
cuộc sống riêng tư, ngài luôn sống khó nghèo,
không ham hố hưởng thụ giàu sang, ngài ăn uống đạm bạc, mặc áo vải thô,
đi guốc mộc” Về điểm này, người
ngoại cuộc chỉ cần nh́n tấm h́nh
chụp chiếc giường ngủ đơn sơ,
thanh đạm của vị giám mục quá cố là
đủ rơ. Trong
Hồi Kư toàn tập Phần II ngài viết về hàng
Giám Mục với những lời lẽ cương
trực như sau: “Giám Mục đoàn,
yếu
(...) Thiếu đoàn kết, chia rẽ theo miền, theo
địa phương (…) Vị th́ chỉ
lo cho quyền lợi của Giáo phận ḿnh, không
quan tâm mấy đến quyền lợi chung;
vị khác lo bảo vệ vinh quang (học vị),
hầu hết nhút nhát sợ sệt, nhất là các
vị miền Nam, v́ luôn bị mặc cảm
chiến bại. Đức
Giám Mục Mỹ Tho đạo đức chân chính
bị coi là lẩm cẩm. Không
thiếu những vị kỳ thị Giáo phận
nhỏ to, thầm mơ ước, và thậm chí
nếu có thể, vận động cách nào đó
để được chuyển vào những vị
trí cao sang.”
(HK toàn tập Phần II – Giáo
Hội CGVN Trước Cơn Băo Thời Đại,
trang 256) Hơn
ai hết Đức Cha Phaolô có quyền và có đủ
tư cách để đưa ra những nhận định
thẳng thắn trên đây. Giản dị v́ cũng
trong bài giảng nhân Thánh Lễ an táng ngài, đức
giám mục phụ tá tổng giáo phận Hà Nội
đă làm chứng trước sự hiện diện
đông đủ các chức sắc trong Giáo hội và
nhiều ngàn tín hữu như sau: “Là con người khiêm tốn, tuy 2 lần được Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê đề cử làm Giám mục, nhưng ngài đều từ chối. Lần thứ ba v́ nhu cầu cấp thiết của Giáo Phận Hà Nội, ngài nhận làm giám mục phụ tá giúp việc đức Hồng Y Phaolô Phạm Đ́nh Tụng, khi đă bảy mươi lăm tuổi.”
Vị chủ chăn can trường - Người Ngôn sứ miệt mài rao
giảng Sau
biến cố đất nước bị chia đôi
năm 1954, cùng với một số linh mục, cha
Phaolô Lê Đắc Trọng đă chọn ở
lại miền Bắc, can đảm chấp nhận
vai tṛ chủ chăn –hơn thế, vai tṛ Ngôn
Sứ, giữa một xă hội vô thần, vô luân, vô
tôn giáo, vô tổ quốc-. Vẫn theo đánh giá
của Đức Cha phụ tá TGP Hà Nội Lôrenxô Chu
Văn Minh, th́ “Ngài
là một ngôn sứ nhiệt thành luôn hăng say rao
giảng Lời Chúa, thời thuận lợi cũng như
không thuận lợi. Những bài giảng của
ngài súc tích, mạch lạc lôi cuốn ḷng người,
là đèn sang, soi lối chỉ đường cho dân
Chúa”. Trong
suốt những năm tháng khó khăn, nghiệt ngă,
đảng và nhà nước cộng sản tuy không
ra mặt bách đạo như những thế kỷ
trước, nhưng bằng nhiều phương
thế khác nhau, họ đă âm thầm tiến hành
những thủ đoạn tinh vi, thâm độc
nhằm tiêu diệt lần hồi các tôn giáo, nói
chung, cách riêng Giáo hội Công giáo. Thí dụ như
họ chiêu dụ những thành phần tín hữu –bao
gồm cả giáo dân và một thiểu số giáo sĩ-
bất măn, có cuộc sống bê tha, rối đạo
để lập ra những tổ chức như
“Ủy Ban Liên Lạc Những Người Công Giáo Yêu
Nước, Yêu Ḥa B́nh, Tổ Quốc”, ban đầu
ở miền Bắc và “Ủy Ban Đoàn Kết Công
Giáo Yêu Nước” sau này ở miền Nam để
dùng chính người Công giáo đánh phá Giáo hội
theo kiểu “gậy ông đập lưng ông”;
hủ hóa, mua chuộc các đấng bậc nhằm
chia rẽ nội bộ Giáo hội; ngầm tước
bỏ mọi phương tiện giáo dục, đào
tạo, ấn loát khiến cho việc học đạo,
t́m hiểu giáo lư bị trở ngại. Đấy là
chưa kể những thủ đoạn vu oan, giá
họa nhằm bắt bớ, kể cả giết chóc,
thủ tiêu các linh mục, tu sĩ như trường
hợp cha Nguyễn VănVinh thuộc Giáo phận Hà
Nội bị giam cầm đến chết ở nhà tù
khét tiếng Cổng Trời chẳng hạn. Trong
Hồi Kư toàn tập, Đức Cha Phaolô đă
nhiều lần công khai nói tới chủ trương
thâm độc của đảng và nhà nước
cộng sản nhằm loại khỏi tâm trí người
dân, nhất là giới trẻ những ư niệm
về “Ông Trời” về “Thiên Chúa”. Trong HK toàn
tập Phần Một – Thời
Thơ Ấu & Bước Đường Mục
Vụ (trang 157), đức cha nhận định: “người
xưa khiêm tốn khẩn cầu: ‘Lạy
trời mưa xuống’
th́ nay ‘thay
trời làm mưa’. Tất cả đều
có ư chối bỏ Thiên Chúa,
hoặc có Thiên Chúa th́ cũng chỉ là nhân vật
rất tầm thường, chẳng có ích ǵ cho chúng
ta; c̣n cản trở bước tiến của nhân
loại là khác! Đúng với cái khẩu hiệu của ông tổ
Các Mác của họ: ‘Tôn
giáo là thuốc phiện mê hoặc nhân dân’
(La religion est l’’opium du peuple).” Để
củng cố niềm tin nơi Thiên Chúa của các tín
hữu hầu triệt tiêu luận cứ cho rằng
không có Thiên Chúa của người cộng sản,
trong thời gian ở Nam Định, linh mục Phaolô
Lê Đắc
Trọng đă vận dụng tối đa những phương
tiện eo hẹp có trong tầm tay để viết,
chuyển ngữ, in và
phát hành “chui” những tập tài liệu về giáo
lư cơ bản. Đức cha viết: “Chính
tôi quay máy ronêo của tôi, trong một buồng đóng
kín, chỉ có ḿnh tôi và cháu tôi là Oánh, hai bác cháu,
chứ không có người khác, để việc in
được giữ kín…” (Trang 150) Việc
làm này nhà nước không thể không biết và v́
thế: “…họ
khó chịu về những vấn đề tôi
đưa ra bản chất là ngược với
điều họ tuyên truyền. Chẳng hạn lúc
đó người ta nói, nhất là trong các trường
học, con người không có linh hồn. Họ
thuộc phái duy vật mà!”. V́ thế: “Tôi viết sách: Con người phải có linh
hồn” (Trang 157) Ḷng
trung thành với đức tin Công giáo của đức
cha c̣n được biểu hiện qua những
lần ngài được mời đi “làm việc”.
Trong Hồi Kư, ngài kể lại chi tiết cuộc
đối thoại sau đây: “Một
tháng sau, tôi bị gọi ra Viện Kiểm Sát Nhân Dân
làm việc. Viện Kiểm Sát có chức năng
điều tra xác minh dữ kiện để
đưa ra Toà án. Lần đầu tiên và cả
đời tôi chỉ có lần này mới biết
Viện Kiểm Sát…. Chung quanh tôi độ ba
chục giáo gian, tôi quen mặt một số vẫn
đến nhà xứ đấu tranh. Ông Viện Trưởng
cất tiếng hỏi: -
Ông có làm phép đạo cho anh này không (tôi không
nhớ tên)? -
Tôi thưa: Có. -
Khi làm phép th́ ông đă nói thế nào? -
Điều này luật đạo chúng tôi không
được phép nói. -
Ông phải nói, v́ đây là pháp luật đ̣i
hỏi. -
Tôi không được phép nói, v́ luật chúng tôi
dạy rằng: khi giải tội th́ không bao giờ
được nói điều người ta nói
với tôi, dù có phải chết cũng không
được nói: đó là bí mật toà giải
tội, chúng tôi phải giữ với giá mạng
sống chúng tôi. Họ
cứ hỏi đi hỏi lại măi, tôi vẫn
chỉ thưa có một câu: -
Tôi không được phép nói. Rồi
họ hỏi hàng mấy chục câu hỏi vu vơ,
trong đó có một câu quan trọng: -
Ông có tôn trọng chính quyền không? -
Có - luật đạo chúng tôi dạy điều
ấy. Cả
một ngày thẩm vấn, chỉ có lời hỏi
đáp đó là đàng hoàng. Ông
Viện Trưởng đọc lại biên bản
để tôi kư. Khi đọc đến câu: ông có tôn
trọng “chính quyền”
không? th́ ông ta lại hỏi: ông có tôn trọng
luật pháp nhà nước không? Tôi ngắt lời ông
ngay và nói: Ông không hỏi tôi thế. Nếu ông
hỏi tôi ‘có tôn
trọng luật pháp không’, th́ tôi thưa khác”. -
Ông thưa khác thế nào? -
Nếu ông hỏi có tôn trọng chính quyền th́ tôi
thưa có và không điều kiện. V́ luật đạo
dạy dù chính quyền là thế nào đi nữa, cũng
phải tôn trọng. C̣n nếu hỏi: Có tôn
trọng luật pháp nhà nước không, th́ tôi thưa
khác. -
Thưa thế nào? Rồi ông ta giơ cao cuốn
Hiến pháp lên: -
Đây luật pháp nhà nước, dù là Tổng
thống, dù là Chủ tịch nước cũng
phải tuân theo. Và ông ta trịnh trọng hơn
nữa, hỏi khi dằn từng tiếng: -
Ông có tuân theo pháp luật nhà nước không? Tôi
cũng trịnh trọng và dằn từng tiếng: -
Tôi tôn trọng luật pháp nhà nước, khi
luật pháp đó không ngược đạo lư chúng
tôi. Ông
ta lại nói to hơn và dằn từng tiếng: -
Đây! Pháp luật nhà nước! Ông có tôn
trọng không? Tôi
cũng dằn từng tiếng: -
Tôi tôn trọng khi luật pháp đó không có ǵ đi
ngược với đạo lư chúng tôi. C̣n nếu
có điều ǵ ngược với đạo lư chúng
tôi, lương tâm tôi không buộc phải theo. -
Thế nào là không hợp với lương tâm? Tôi
ví dụ: -
Ngày xưa vua chúa ra luật cấm đạo, th́ dù
có chết cũng không tuân luật vua chúa. Đó là cái
chết của các Thánh Tử Đạo chúng tôi
đó. Ông Viện trưởng không c̣n ǵ mà nói. Tôi cũng thế…” (HK toàn tập Phần Ba – Cái Nh́n Đối Với Việt Minh & Chủ Nghĩa CS, trang 365-366-367).
Đức cha Phaolô và
“Ủy Ban” phá đạo Điều
kỳ diệu là mặc dầu dưỡng phụ
Đức Cha Phaolô Lê Đắc Trọng là linh
mục Vũ Xuân Kỷ, người sau năm 1954
từng giữ chức vụ Chủ tịch “UB/LL/YTQ&YHB”
mà hậu thân của nó là “UB/ĐK/CGYNVN” ở
miền Nam sau này, nhưng dường như không bao
giờ, dù chỉ trong phút giây, tâm hồn và ư chí ngài
bị lung lạc hay chao đảo. Đức cha luôn
có một lập trường kiên định và
dứt khoát. Nói về “Cha Bố”, Đức Cha
Phaolô viết: “Cha Kỷ
suốt đời vẫn quư mến tôi, nhưng tránh
tôi v́ biết tôi không cùng lập trường
với ngài”. (HK toàn tập Phần Bốn:
Phụ lục – Đôi hàng
về thân thế ĐC Phaolô Lê Đắc Trọng –
Vũ Sinh Hiên. Trang 502). Theo
đức cha th́ cả giáo phận Hà Nội thời
ấy cũng có một lập trường dứt khoát
như vậy: “Thông
cáo về ‘Ủy
Ban liên lạc những người công giáo yêu tổ
quốc yêu hoà b́nh’ có
chữ kư của cha Đinh Lưu Nhân, cha chính Địa
phận. Bản thông cáo nói về việc dùng chữ
“Công
giáo”. Chỉ được
dùng danh nghĩa đó đối với những đoàn
thể đă có phép giáo luật: ở đây
cái Ủy Ban này không có phép, nên là sai luật.
Với một số lư do khác nữa, người Công
giáo không được gia nhập phong trào đó.
Thông cáo đó được đưa đi các nơi
chính trong các Địa phận” (Hk toàn
tập Phần Một – Thời Thơ Ấu và Bước Đường
Mục Vụ, trang 148) Ở
một đoạn tiếp ngay sau đó,
đức cha xác định quan điểm và dự
tính riêng của ngài như sau: “Cái
Ủy Ban đó, tôi cho rằng chỉ là bước
đầu để đi đến việc lập
Giáo hội tự trị,
như ở bất cứ nước Cộng sản nào.
V́ thế, bản thông cáo kia chưa đủ. Tôi
muốn tŕnh bầy về mối liên hệ giữa
người Công giáo Việt Nam với Giáo hội hoàn
vũ theo phương diện tích cực…” (Trang
149) Trong
mục Phong trào các Patriotes, HK toàn tập Phần Hai, tác
giả viết: “…
Giáo Hội khổ
nhiều v́ nhóm đó trong nhiều năm, v́ đó là
công cụ để phá đạo, bách hại đạo,
giống kiểu Julien Apostats: lấy đạo
chống đạo, lấy người có đạo
đập người có đạo, lấy con cái
chống lại cha mẹ….
Người
Công giáo chịu bao khốn khó, tù đầy cũng là
do nhóm này… Cũng may là những linh mục hay giáo dân lănh
đạo được lựa chọn ở
những thành phần không đạo đức, nên
ít ai theo; nhưng họ lại có quyền của nhà
nước, mà họ dốt nát, nên càng dữ
tợn, người ta vừa sợ, vừa biết
bộ mặt của họ. V́ thế, nó đă
sắp tàn nếu không có miền Nam đến
tiếp sức và hồi phục nó dưới nhăn
hiệu mới “Ủy ban Đoàn kết”. Uỷ
ban này có lănh đạo trí thức (các linh mục
bằng cấp), t́m được đất màu
mỡ ở miền Nam và sống mạnh, nhờ vào
việc thay đổi chiến thuật….” (HK
toàn tập, Phần Hai – Giáo Hội CGVN Trước Cơn Băo Thời Đại,
trang 260-261) Sau
đó, đức cha xác tín rằng dù thay tên đổi
họ th́ bản chất của những tổ
chức này vẫn chỉ là một thứ tay sai
của chế độ. V́ thế ngài khẳng định:
“Forme
có đổi, fond vẫn không thay đổi. Tuyên
bố không tách khỏi Giáo hội, lại c̣n giúp in
những sách đạo, phổ biến Phúc Âm giáo lư,
giúp cho các cha các xứ được quyền
lợi nọ kia, đạo được dễ dàng,
nhưng thực tế
vẫn là tách khỏi Giáo hội, v́ họ làm
mọi việc đó nhân danh họ, ngoài quyền bính
chính thức của Giáo hội” Trang 261). Bàn
sâu vào những hệ quả nguy hại mà những thành
phần đi theo tổ chức phản đạo kia
phải gánh chịu, kể cả giới lănh đạo
trong Giáo hội thân cận với nó, chuẩn
nhận nó, dủ chỉ để lợi dụng cách
nào đó, đức cha viết tiếp: “Họ
phải thừa hiểu rằng: được
chín cái lợi mà hy sinh một điều thôi, có
thể là mất tất cả… Ví dụ chỉ
chấp nhận thế này: ‘Ông
là bạn tốt của tôi, ông giúp đỡ tôi
rất nhiều. Chúng ta là bạn tốt với nhau!’.
Đă là bạn tốt với nhau, đâu c̣n dám làm
phật ư nhau, làm khác ư ông bạn của ḿnh, phương
chi làm ngược ư bạn, thế mà ông bạn kia
lại là người tham lam, cho đi tất cả
để lấy lại tất cả. Nhận
thuộc về người bạn đó, là hiến
cả đời sống cho người đó, cả
Giáo hội, nếu có thể! Nhưng một khi
đă trót rồi, không thể rút ra được
nữa. Kinh nghiệm xưa là thế, nay vẫn
thế. Nào mất quyền lợi, nào nguy cơ tưởng
tượng, nào sĩ diện. Nay mọi cái mọi nơi
đều thay đổi, chỉ con người có
tinh thần ly khai, chống Giáo hội th́ vẫn y nguyên.
Một Đức Giám
Mục nói về Tổng Đại Diện của ḿnh
đang thao túng mọi việc trong Giáo phận mà
vị đó đă là và nay vẫn c̣n tinh thần
patriot, Toà Thánh đă biết, dư luận chống
đối, muốn vị đó từ chức. Đức
Giám Mục nói: “Ông
ấy tốt, giúp nhiều việc, làm sao băi chức
ông được. Khi nào tôi chết, tức
khắc ông ấy hết quyền”. Bi đát
làm sao! Truyện thật 100%! Những ấn loát
muốn được ra mắt, phải dán nhăn
hiệu “Đoàn
Kết”. Các tác
phẩm mất giá một phần, bị nghi ngờ. Nay
dưới nhăn hiệu “Xuất bản của Toà Tổng Giám Mục”.
Đức
cha cay đắng kết luận: “Lănh tụ đă vào ngự toà rồi!” (trang 261-262)
Với
tâm t́nh mến đạo, yêu nước sâu xa, Đức
cha có cái nh́n cảnh giác rất sớm về
cộng sản. Là
người có một kiến thức rộng răi, uyên
bác, thêm vào ḷng yêu mến Giáo hội và Dân tộc cách
sâu xa, ngay từ những ngày đầu gọi là Cách
Mạng Tháng Tám khi cộng sản c̣n mang danh hiệu
Việt Minh, linh mục Phaolô đă có một cái nh́n
xuyên suốt về chủ nghĩa cộng sản và
nhân vật Nguyễn Ái Quốc núp dưới tên
Hồ Chí Minh để du nhập chủ nghĩa này vào
Việt Nam. Trong
Hồi Kư vủa Đức Cha, người ta đọc
được những nhận định sắc bén
sau đây: “Đảng
cộng sản Đông Dương biết người
Việt Nam đều sợ cộng sản, nên ngay từ năm 1945, họ đă giả cách tự
giải tán, để lập Hội Nghiên Cứu
Chủ Nghĩa Mác. Ông Hồ Chí Minh c̣n khôn khéo làm
thân với Đức Cha Lê Hữu Từ, và mời
ra làm cố vấn… Dẫu
vậy, người ta biết ngày càng rơ: ông là
Nguyễn ái Quốc, một người trùm cộng
sản, phụ trách khu Đông Nam Á. Lúc này chưa
có đảng lao động hay cộng sản ǵ
hết, mà chỉ đơn thuần là Việt Minh”.
(HK toàn tập Phần Hai – Giáo
Hội CGVN Trước Cơn Băo Thời Đại, trang
189-190) Tiếp
theo, trong một đoạn kế, ngài viết: “…
Có một cuốn sách rất nhỏ t́m được
ở một hiệu sách ở Nam Định, trong
đó tác giả đặt ra một số câu
hỏi câu thưa để dân gian dễ hiểu
về một số vấn đề như ‘Dân
chủ là ǵ?’ ‘Cộng hoà là ǵ?’, ‘Đế
quốc là ǵ?’ v.v. Trong các câu hỏi thưa, có
một câu: ‘Không tin vua là
con trời, có đúng không?’ - Thưa: ‘Trời cũng
không có, th́ làm ǵ có con trời’. Lời tuyên
bố công khai và gián tiếp về tôn giáo có thế.
C̣n trong thực tế, chỗ nào cũng rêu rao “tôn
trọng tự do tín ngưỡng”. Trong chiến tranh
phá hoại (tiêu thổ kháng chiến), phải tôn
trọng các nơi thờ tự.
Thế nhưng ban đầu, cổ vơ phá
huỷ các nhà xây kiên cố để địch
khỏi lợi dụng đóng bốt. Một số
nhà thờ bị thiêu huỷ, chôn ḿn ở trong, như
Đồng Tŕ, Vĩnh Đà… bị thiêu huỷ
hoặc bị đặt ḿn để đánh sập.
Một số nhà thờ như ở Kẻ Đại,
Đồng Đội bị bom Pháp đánh sập. Những
vụ bom đạn tàn phá như thế, người
ta nghi có bàn tay Việt Minh dính líu. Có thể
họ đưa một tin mật nào đó rằng, nơi
nọ nơi kia có chứa vũ khí hoặc có
Việt Minh hay bộ đội đang đóng ở
đó. Thế là Pháp đến dội bom, hoặc
bắn ca nông vào nơi đó” (Trang 190-191) Trong
Hồi Kư toàn tập Phần Ba, người ta đọc
được những gịng sau đây: “Chỉ
có đảng Cộng sản Đông Dương
vẫn ngấm ngầm hoạt động, nay xuất
đầu lộ diện dưới danh hiệu
Việt Minh. Việt Minh là tên tắt của Việt
Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, là mặt
trận như họ nói ‘bao gồm mọi đảng
phái yêu nước, mục đích giành độc
lập cho Việt Nam’. Đảng
Cộng sản là linh hồn, là chủ yếu, là lănh
đạo của mặt trận. Sau này vỡ
lẽ chỉ có hai đảng, đảng Xă hội,
đảng Dân chủ. Hai đảng này cũng
chỉ là cách nói của đảng Cộng sản
chứ họ vẫn phải răm rắp theo
đường lối của đảng Cộng
sản. Cuộc gọi là “cách mạng” nay trở
thành tên tuổi chỉ nhờ cách tô son vẽ
phấn sau này, mà cách tô phết của cộng sản th́ có
tiếng”. (HK toàn tập Phần Ba – Cái Nh́n Đối Với Việt Minh & Chủ
Nghỉa Cộng Sản. Trang 276) “Cách
Mạng Tháng Tám, ngày giành chính quyền vừa nổ
ra được mấy hôm, tôi thấy Ban cho tôi xem
tờ báo không nhớ tên là ǵ, chỉ trông rơ và ngày
nay trong trí c̣n nhớ rơ ḍng chứ lớn: Ủy ban
cách mạng lâm thời do ông Hồ Chí Minh cầm
đầu. Chưa nghe thấy tên ông Hồ Chí Minh bao
giờ. Nghe cũng dễ nhớ, đọc cũng kêu
đấy. Ban
lại cho tôi biết: đó là ông Nguyễn Ái
Quốc. Tên ông này th́ tôi biết lắm. Tôi đă
nghe nói về ông, cái tên
ông nó cũng làm cho tôi vui: Ái Quốc! Cái tâm t́nh nung
nấu tuổi trẻ khắp nơi khắp thời.
Thế nhưng tôi biết ông là người cộng
sản sống ở Nga. Tôi có đọc một vài
tờ tuyên bố trong Tạp chí Cahier bằng
tiếng Pháp, viết ở nước Nga. Tôi chỉ
nhớ dưới những tuyên bố đó, có kư tên
Nguyễn ái Quốc. Tôi e, e không dám nói, e sợ
một chút, v́ như thế chính xác ông là người
cộng sản…” (Trang 279-280) Những
gịng kế tiếp, tác giả viết: “Tôi
cũng đă đọc cuốn Bức Màn Sắt (bản
dịch cuốn Moscou sans voile), nhưng tôi
hiểu sâu hơn về cộng sản khi tôi đọc
cuốn Les dogmes du communisme (Những tín điều
của chủ nghĩa cộng sản). Cuốn này tôi
dịch ra tiếng Việt vào một kỳ nghỉ hè…” (…) Bầu
khí chính trị lúc này thế nào? Nói
đến hai chữ “Độc lập” người
Việt Nam nào lại không phấn khởi sau hàng trăm
năm mất nước. Bảo
là đảng phái, phong trào ái quốc nổi lên
để giành độc lập, nhưng hầu
tất cả đều bị dẹp tan tành.
Quốc Dân Đảng, rồi Đại Việt nay
chỉ c̣n thoi thóp…. Họ là một đảng
kỳ cựu, giầu chiến lược chiến
thuật, được quốc tế cộng sản
nâng đỡ, v́ họ là một chi nhánh. Họ
thay đổi h́nh dạng luôn luôn, nên họ
dễ tồn tại và phát triển. Cái động
lực giúp họ mạnh lên, luôn luôn là núp dưới
tinh thần ái quốc. Lúc
này mà nói đến cộng sản ra lănh đạo,
dân ta chắc không ai theo, trừ mấy người
đă là cộng sản, nên họ đổi thành
Việt Minh, vẫn ranh ma, vẫn khéo léo xoay chiều,
luồn lọt…” (Trang 280-281)
Cái nh́n sâu sắc
của Đức Cha Phaolô về chính sách “tiêu
thổ” & “cải cách ruộng đất” *
Tiêu thổ kháng chiến: Tiếp theo biến
cố gọi là “cuộc kháng chiến toàn quốc”
nổ ra vào cuối năm 1946, Việt Minh phát động
mạnh mẽ chiến dịch “tiêu thổ” mà ông
Hồ gán cho ư nghĩa là phải tạo nên cảnh
“vườn không nhà trống” để cho thực
dân Pháp khi tiến vào các thị trấn các làng
mạc của ta không c̣n có nơi trú quân. Lúc bấy
giờ hầu hết người dân đều
hiểu như thế và tin thật như thế. V́
vậy có những người quá hăng say, nhiệt
thành với nghĩa vụ công dân đă tự đập
phá nhà ḿnh trước khi di tản. Nhưng tác
giả Hồi kư đă sớm nhận ra ư định
thâm sâu của những người cộng sản khi
phát động rầm rộ chính sách gọi là “tiêu
thổ kháng chiến”. Theo Đức Cha Phaolô th́ nó
chỉ là một âm mưu khởi đầu để
nối tiếp bằng cuộc cải cách ruộng
đất sau này nhằm hoàn tất chủ trương
“cào bằng”, triệt hạ những thành phần
tư sản mại bản, địa chủ có nhà
cửa, ruộng vườn để tiến lên cái
gọi là xă hội chủ nghĩa, nói trắng ra là
cộng sản. Trong
Hồi Kư ngài viết: “Từ
năm 1948, Nam Định lúc tôi về chỉ là
một cảnh hoang tàn, do chính sách tiêu thổ kháng
chiến của Việt Minh. Ở đâu cũng
thế, các thị xă, thành phố nhỏ như Nam
Định, nơi không có quân chiếm giữ th́ các
nhà đều bị phá huỷ; các phố bên vệ
đường cái quan cũng bị phá huỷ. Ở
các làng, các xă, các nhà hai tầng, nhà lớn cũng
bị đánh sập. Lí do, để quân đội
Pháp khỏi lấy đó để đóng quân, làm
bốt (poste), làm căn cứ địa. Lí
do sâu xa nhất, để hạ người giầu,
tiêu huỷ tài sản của họ, san bằng giai
cấp. Tôi
rơ điều đó, khi c̣n ở quê nhà hồi 1947, Lê
Văn Ban cán bộ, em rể tôi một hôm về nhà
mang theo tài liệu. Trong các tài liệu đó có nói:
‘Chúng ta đă thắng lợi, một là phá hủy
cửa nhà của bọn chúng, họ ở thành
phố, mang theo ít đồ đạc đi sơ tán.
Nay ta bảo khu này không an toàn, khu kia không an toàn; đồ
đạc cồng kềnh chúng bán rẻ bán đắt
hết, thế là chúng hai tay sạch không’. Đánh đổ quân đội Pháp là một
mục tiêu; đánh đổ giai cấp tư bản
là mục tiêu khác, c̣n quan trọng hơn. V́
giả sử có đuổi được quân đội
Pháp, mà tư bản vẫn c̣n chễm chệ
ngồi yên, th́ đối với Việt Minh, cách
mạng chưa kể là thành công. Phải
tiêu diệt hai kẻ thù cùng lúc, mà kẻ thù tư
bản cần phải được đánh gục hơn.
Họ đă đạt mục đích đó ở thành
phố Nam Định.”
(HK toàn tập Phần Một – Thời Thơ Ấu & Bước Đường
Mục Vụ. Trang 99-100). Trong
một chương khác, tác giả ghi nhận: “Cái
‘chiến lược vườn không nhà trống’
không phải chỉ để đối phương
không c̣n chỗ đặt chân, mà nhất lả dân cư
của vườn, của nhà không c̣n ǵ!” (HK toàn
tập Phần Ba – Cái Nh́n Đối Với Việt Minh & Chủ Nghĩa
Cộng Sản. Trang 307) *
Cải cách ruộng đất: Đây là
biến cố được tác giả Hồi Kư coi là “long trời lở đất” do đảng
và nhà nước phát động ở miền
Bắc giữa thập niên 50. Dù là một linh mục,
nhưng với tâm t́nh yêu nước thiết tha, luôn
gắn bó với nhịp sống nổi trôi, bất
hạnh của người dân trong thời nhiễu nhương,
tao loạn, đức cha đă quan sát từng
đường đi nước bước của
guồng máy cầm quyền trong tiến tŕnh cải cách
ruộng đất, từ giai đoàn các Đội
Cải Cách được gửi về để
“bắt rễ” tại các địa phương
tới lúc phong trào lên cao với hàng trăm, hàng ngàn
người dân vô tội bị đem ra đấu
tố, bị xỉ nhục, bị giam cầm hay
bị giết chóc thảm khốc. Một
cách khái quát, tác giả Hồi Kư nhận định: “Cuộc
cải cách ruộng đất nó dữ dội quá,
giết nhiều người quá, đă làm hoen
ố bộ mặt cộng sản luôn tuyên bố v́
nước, v́ dân, v́ độc lập, với bao là
chính nghĩa xuông.” (HK toàn tập Phần Ba – Cái Nh́n Đối Với Việt Minh & Chủ Nghĩa
CS. Trang 375) Đức
Cha Phaolô khẳng định, cũng như mọi
đường lối, chính sách khác, khi phát động
cuộc cải cách ruộng đất, đảng và
nhà nước cộng sản hoàn toàn rập khuôn
những ǵ quan thày của họ đă thực
hiện tại Liên Xô và Trung Cộng. “…
Người Cộng sản Việt Nam học
được kinh nghiệm của các anh Liên Xô, Trung
Quốc, nên công cuộc được tổ chức
rất chu đáo cặn kẽ, từ lúc phát động
đến hoàn thành” Kinh
nghiệm đó như thế nào? Theo tŕnh thuật
của tác giả Hồi kư th́: “Đầu
hết là cái khẩu hiệu:
‘Người cầy có ruộng’ quá
hợp t́nh hợp lư đi thôi. Cho được
thế, đem ruộng đất ở tay những người
có nhiều quá mà san sẻ cho những người không
có tí nào! Đó cũng là lẽ công bằng. Nhưng
làm sao để vui ḷng san sẻ. Giáo Hội có
luật công bằng, xă hội dựa trên bác ái.
Cộng sản có phương châm đấu tranh
dựa trên căm thù. Làm thế nào để khơi
dậy căm thù, hay nói chung, để thành cán
bộ cải cách, là đội cải cách?” (Trang
378) Theo
nhận định bằng những thực chứng
của Đức Cha Phaolô th́ đây là một chính sách
được chuẩn bị kỹ lưỡng
với những nhân sự gọi là “đội
cải cách” được đào tạo có bài
bản trong những trường huấn luyện
được xây dựng ở nhiều nơi. Đức
cha viết: “…Những
trường được xây dựng để
đào tạo đội cải cách. Tôi biết
một trường như thế ở Phủ Lư…..
Người ta dạy ǵ trong trường? Tôi không rơ,
tất cả là bí mật. Nhưng khi thấy công
việc đội cải cách làm, th́ biết họ
học ǵ, được huấn luyện thế nào? Vậy
đội cải cách đă làm ǵ? Xin hăy đọc
những gịng HK sau đây: “…
Vào pḥng họp, đội dơng dạc tuyên bố:
‘Bà
con nông dân đề cao cảnh giác, v́ địch nó
ngồi ở đằng sau ta…’. Người ngồi sau run sợ…! Một lúc
nữa, đội lại nói: ‘Bà
con cảnh giác, địch nó ngồi ngay trước
mặt ta’.
Ngồi trước ngồi sau đều là địch
cả. Không c̣n biết chọn chỗ nào nên ngồi?
Sợ sệt và sợ
sệt…! Ai
nấy ngồi yên chỗ, bắt đầu cuộc
‘đấu tố’.
Tố cáo tội ác giai cấp bóc lột, đấu
tranh đánh đổ giai cấp bóc lột đó.
Mọi người bắt đầu cuộc kể
khổ, để tố cáo tội ác của bọn
địa chủ cường hào ác bá. Những
tội ác được bịa đặt ra nhiều
hơn và nặng nề hơn sự thật. ‘…Tôi
vay hắn ta mấy bát gạo, hắn ta bắt tôi
viết văn tự thế bằng một sào
ruộng. Tôi không có ǵ trả, thế là hắn ăn
không sào ruộng của tôi. Và cứ mấy lần
vay như vậy, rồi không có ǵ trả, thế là
không c̣n một
mẩu đất để cắm dùi’. ‘Tôi
cấy tô cho nó, chẳng may trời để mất
mùa, v́ băo lụt, nó cứ thu tô như chẳng có
tai hoạ ǵ xẩy ra. Chẳng có ǵ mà nộp, nó cho
người đến tháo bộ cửa, dỡ
mấy gian nhà tôi….’ ‘Tôi
nghèo khổ, đi làm thuê cho nhà nó, ăn đói,
ăn khát, nó c̣n đánh đập, tiền công không
trả, nhà nó t́m cách đuổi tôi đi để
quỵt công….’ Và
nhiều thứ tội khác, chung quy chỉ là tội tàn
bạo, bóc lột, đổ trên những người
bị quy là địa chủ, hay ác ôn, cường hào
ác bá. Có thể là tội cá biệt nhưng nay là
tội chung. Ai là đối tượng th́ được
khoác cho những tội đó. Người nông dân thật thà chất phác, mấy
ai nghĩ ra được cách tố cáo, tất
cả đă được dậy bảo, được
Đội
‘mớm’ cho trước. Thế
rồi đấu, đấu tranh với địa
chủ, th́ phải có khí thế, chưa quen th́ phải tập. Chưa có ai xuất
hiện để mà đấu, th́ có thể dùng cái
cột nhà thay thế. Bà con và nhất là các
phụ nữ. Giơ tay xỉa xói vào cái cột nhà:
‘Mày đă cướp của tao, mày đă
đốt nhà tao, mày đă đánh đập tao
thật tàn bạo, tao khó nhọc làm giầu cho mày, mà
mày cho tao ăn đói ăn khát…’.
Tất cả phải được nhuần
nhuyễn, từ cử chỉ đến lời nói,
để khi gặp ‘người
thật’ không ngượng ngùng ái ngại. Đến
nỗi mà một người phụ nữ đứng
tuổi, rất thương người cha già chị
săn sóc hằng ngày. Chị nói với bố: ‘Ông
có biết tôi là ai không?’. Người cha
ngậm ngùi nh́n
đứa con dứt ruột của ḿnh và nói:: ‘Thưa bà, con là người đẻ ra bà
ạ’. Lời thưa năo nùng thảm thương,
nhưng phải hỏi cái sức ma quỉ nào đó
đă thúc đẩy người con chất vấn người
bố như thế? Cứ đó mà luận ra
những người khởi xướng!”
(Trang 381-382-382) Theo
nhận định của Đức Cha Phaolô th́ không
ai khác, chính ông
Hồ là người chịu trách nhiệm về
kết quả kinh hoàng của cuộc cải cách
ruộng đất ở miền Bắc mà Trường
Chinh Đăng Xuân Khu chỉ là một thứ “con dê
tế thần”. Ngài viết trong Hồi Kư
như sau: “Tuy
là Tổng bí thư Đảng, là lư thuyết gia
của Đảng, nhưng ít người biết
đến tên tuổi ông, đến mặt mũi ông.
Ông được trao cho là người thừa hành
kế hoạch cải cách ruộng đất,
c̣n ông Hồ Chí Minh
‘giả cách đứng ngoài’.
Kế hoạch đó cũng đạt mục đích
phần nào, v́ sau này tai tiếng đều trút trên
đầu ông Trường Chinh, mà ‘Bác Hồ’
là ‘nhân từ’
chỉ bị liên hệ chút ít. Nhưng làm sao mà che mắt được dư
luận nhân dân. Ông Hồ là lănh tụ tối cao, mà
ông Trường Chinh chỉ là tay chân, làm sao công
việc long trời lở đất đó lại qua
mắt được lănh tụ tối cao?…”
(Trang 375-376) Giữa
lúc cuộc cải cách ruộng đất đang
tiến vào giai đoạn kinh hoàng nhất th́ nhà
cầm quyền lên tiếng là có
sai lầm và ra lệnh sửa sai. Sửa sai như
thế nào? V́ nhận ra là sai lầm nên sửa sai hay
chỉ là một thứ đ̣n phép quen thuộc
của những người cộng sản? Sự
thật ra sao, chúng ta hăy đọc tiếp những
chứng từ của cố Giám Mục Phaolô Lê Đắc
Trọng: “Lại
bàn về sai lầm.
Thiết nghĩ làm ǵ có thể sai lầm được?
Giả sử chỉ có ḿnh Việt Nam làm cải cách
ruộng đất, chưa có đâu làm, th́ c̣n có
thể nói đến sai lầm. Đàng này các
bậc thày, các bậc đàn anh đă làm, đă rút
kinh nghiệm. Việt Nam chỉ việc lặp lại.
Người ta đă tính từ trước sẽ có
những sai sót. Có thể nói, những sai sót cố ư! Thà có
giết nhầm mười người c̣n hơn
để sót một thằng. Hoặc kinh nghiệm
cho thấy là việc cải cách gây đau khổ
nhức nhối chừng nào! Nên giả cách, có vài
sửa sai chẳng vào đâu cả, để
phần nào làm nguôi ḷng dân.” (Trang 408)) Ở
một đoạn khác, tác giả Hồi Kư viết
tiếp: “Trong
cuốn Biên Niên Sử có nói: ‘Cuộc
cải cách ruộng đất đă hoàn thành, mười
triệu nông dân có ruộng cầy’.
Một cuộc cách mạng long trời lở
đất, mà kết quả có thế th́ cũng khiêm
tốn. Đó chỉ là cái khiêm tốn giả
tạo, sự thực kết quả to lớn hơn vô
cùng. Lấy được ruộng ở tay người
địa chủ ra, không phải là việc dễ dàng.
Phải có những bàn tay mạnh mẽ, đi tới
tàn bạo của một chính thể độc tài
chuyên chính… Lấy lại ruộng đất để
chia cho những người cầy, không phải là
mục tiêu chính của việc cải cách và chính
việc cải cách cũng không phải là mục tiêu
của cách mạng. Lấy lại ruộng đất
chỉ là phương tiện để cải cách,
chính việc cải cách cũng chỉ là phương
tiện cho sự thống trị của giai cấp vô
sản. Nói đúng ra cho sự thống trị của
Đảng chuyên chính được thiết lập
vững chắc. …
Cải cách ruộng đất là một cách quét
sạch những địa chủ,
những cường hào ác ôn, ác bá, những người
có uy tín, những người có mầm mống để
vươn lên. Tất cả những ǵ mà cách
mạng cho là đối nghịch, là nguy hiểm trong
hiện tại và trong tương lai. Quét
sạch, để cho xă hội trở nên một
tờ giấy trơn, để Đảng muốn
vẽ ǵ th́ vẽ, theo ư ḿnh.” (409-410-411) Hóa
ra tất cả chỉ là một tấn tuồng,
một tṛ lường gạt, đối trá không
tiền khoáng hậu, chưa từng thấy trong
lịch sự mấy ngàn năm của dân tộc
Việt. Rút cuộc, người nông dân Việt Nam
chỉ là một đám nạn nhân ngây thơ,
khốn khổ bị lợi dụng, bị xúi
bẩy lao đầu vào những tṛ bất nhân man
rợ của những cuộc đấu tố
dẫn tới những cuộc tàn sát đẫm máu
với cái mồi do đảng và nhà nước treo
trước mắt là được chia chác tài
sản, ruộng nương để cuối cùng
vẫn trở về với cảnh khố rách áo ôm
v́ phải thực hiện khẩu hiệu “đoàn
kết dân tộc, tiến lên xă hội chủ nghĩa”
bằng cách phải trao nộp trở lại những
mảnh đất nhỏ vừa được chia chác
để tham gia “hợp tác xă”! Trong HK toàn tập
Phần III, đức cha Phaolô viết: “Nông
dân vô sản làm ǵ mà biết suy luận như
thế? Người ta bảo đánh th́ đánh,
đập phá th́ đập phá. Rồi họ măn
nguyện với mảnh bằng chứng thực.
Họ được làm chủ mấy sào ruộng,
để rồi ít lâu nữa sẽ rời những
cái ghế chủ nhân. Bây giờ họ chưa
biết thế đâu! Tấm bằng được
tŕnh bầy một cách rất lộng lẫy khổ
60 x 40 có ghi những chữ lớn với nét đỏ
thắm: Giấy
chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất.
…Sau
cuộc đấu tranh mệt mỏi, được
thưởng bằng một tờ giấy có ghi:
‘Giấy chứng
nhận quyền sở hữu ruộng đất’ là
hể hả. Nhưng c̣n phải giữ cái thành
quả đó bằng
‘tăng cường
đoàn kết’, rồi ‘nâng cao cảnh giác’.
Nâng cao cho đến lúc ruộng đất được
đem đi dâng, c̣n lại mảnh bằng… …Mấy
sào ruộng rồi sẽ đưa vào hợp tác xă
để ông chủ lại đi cầy thuê… …Cái
bầu trời phát quang, cái mặt đất
phẳng ĺ ĺ. Muốn dựng lên cái ǵ th́ dựng,
với cái tính tàn khốc, tính quá khích, đă
tạo nên bầu trời quang, và cái mặt bằng cái
tính t́nh man rợ đó đă in sâu trong ḷng, không
biết phải bao nhiêu thế hệ mới xoá
nổi chăng?” (Trang
413-414-419-420)
Vài gịng
kết luận Trên
đây là những nét chấm phá gạn lọc qua
những chứng từ sống động của
Đức Cha Phaolô Lê Đắc Trọng, cố Giám
Mục phụ tá tổng giáo phận Hànội, dàn
trải trên những trang Hồi Kư của ngài. Đấy
là những gịng chữ được viết ra
với tất cả tâm huyết của: *
Một người mục tử nhân lành đă
hiến trọn đời ḿnh cho niềm tin Kitô giáo. *
Một người công dân gương mẫu luôn
hết ḷng với tiền đồ quốc gia, dân
tộc. Sau
92 năm tại thế, ngày 07-9-2009 cố Giám Mục
Phaolô đă được Thiên Chúa gọi về.
Tiền nhân Việt Nam có câu: “cọp chết để
da; người ta chết để tiếng”. Thân xác
Đức Cha đă an nghỉ dưới ḷng đất.
Nhưng những chứng từ của ngài vẫn c̣n
vang động trong ḷng mỗi người chúng ta.
Một câu hỏi lớn được đặt ra:
liệu những chứng từ ấy có tạo nên
được những âm vang nào đối với
những thành phần có trách nhiệm léo lái con
thuyền GHCG trên đất nước Việt Nam
khốn khó hôm nay? Bắt
chước cách nói của Jim Mulligan về
cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị khi ông
hay tin ngài từ giă cuộc đời, chúng ta có
thể nói với
cố Giám Mục Phaolô Lê Đắc Trọng: Đức
Cha đă dạy cho chúng tôi biết sống như
thế nào. Đức Cha đă dạy cho chúng tôi
biết can đảm đương đầu
với sự dữ ra sao. Và hôm nay, sau khi đă
nhắm mắt xuôi tay, Đức Cha vẫn c̣n
tiếp tục dạy chúng tôi biết sống và
biết chết cho lư tưởng làm người, cho
niềm tin, cho công bằng và lẽ phải, qua cách
sống làm chứng cho đời, cho đạo. Nam
California, những ngày đầu tháng 11, 2009 tháng kính nhớ các Linh hồn, cách
riêng, nhớ về Đức cố Giám Mục Phaolô _____________ * Ngay sau Thánh Lễ an táng Đức Cha Phaolô Lê Đắc Trọng, nguyên Giám Mục Phụ tá Tổng Giáo Phận Hà Nội, một số anh em trí thức Công Giáo trong nước đă chuyển cho nhóm chủ trương Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân nội dung cả ba tập Hồi Kư của ngài. Nhờ thế cuốn Hồi Kư toàn tập mang tiêu đề chung “Chứng Từ Của Một Giám Mục” đă được gấp rút thực hiện để kịp gửi tới độc giả hải ngoại dịp lễ Giáng Sinh 2009. Đây cũng là thời gian cử hành Lễ Giỗ Bách Nhật cố Giám Mục Phaolô.
Quí vị đang nghe và xem Video CHO CON LÀ NẾN SÁNG của Alpha Linh. Linh xướng: Trần Ngọc & Khánh Linh - Phụ họa: Nhóm Cát Trắng & Nhóm Thiên Thần. |
Double Click (màn h́nh) the Stream for Full Screen & Press "Esc" to Exit Full Screen (chờ 10-15 giây download video)
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
(Trích trong Thánh Ca Việt Nam ---> DonRac)
Cám ơn quí vị đă theo dơi chương tŕnh của Diễn Đàn Giáo Dân
Xin Thiên Chúa chúc phúc lành đến quí vị.